Một nhân viên văn phòng tại Seoul mang họ Park đã bắt đầu trích 1 triệu won (tương đương 744 đôla Mỹ, tức là khoảng hơn 19 triệu đồng) từ tiền lương hàng tháng để dành cho việc nghỉ hưu kể từ đầu năm nay, sau khi được bạn bè và đồng nghiệp khuyến khích tham gia đầu tư.
Cô phân bổ số tiền này vào hai loại tài khoản hưu trí, tài khoản tiết kiệm hưu trí và tài khoản hưu trí cá nhân (IRP), trong đó phần lớn khoản tiết kiệm được đầu tư vào các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) mô phỏng chỉ số S&P 500 (Quỹ ETF mô phỏng chỉ số S&P 500 là quỹ đầu tư thụ động nắm giữ cổ phiếu của 500 công ty lớn nhất nước Mỹ theo chỉ số S&P 500). Cô thực hiện việc mua ETF một cách tự động hàng tháng thay vì cố gắng canh thời điểm thị trường dựa trên biến động của tỷ giá hay giá cổ phiếu.
"Trước đây, tôi chỉ đóng bảo hiểm hưu trí quốc gia và gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm ngân hàng. Tuy nhiên, tôi bắt đầu lo lắng rằng mình chưa thực sự nỗ lực đủ để tích lũy tài sản", nữ nhân viên 32 tuổi này chia sẻ. Thông tin về việc quỹ hưu trí quốc gia có nguy cơ cạn kiệt sớm hơn dự kiến do tỷ lệ sinh tại Hàn Quốc sụt giảm và tình trạng già hóa dân số càng làm gia tăng nỗi lo lắng của cô: "Đó cũng là lúc những người xung quanh bắt đầu khuyến khích tôi đầu tư, nên tôi quyết định thử sức. Tôi coi đây là cách tự xây dựng khoản lương hưu cho riêng mình theo thời gian. Tôi muốn tiếp tục tích lũy các khoản đầu tư mà mình tin là sẽ tăng trưởng ổn định trong dài hạn, thay vì bị dao động bởi những con số ngắn hạn hay bán tháo giữa chừng".
Park là một trong số ngày càng nhiều người trẻ Hàn Quốc tìm kiếm các giải pháp khác ngoài hình thức tiết kiệm truyền thống và lương hưu nhà nước để tự xây dựng khoản tiền dưỡng già cho bản thân.
Xu hướng này cũng được phản ánh qua các số liệu thống kê: Tỷ lệ người ở độ tuổi 20 và 30 coi cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản tài chính khác là phương thức chuẩn bị cho hưu trí đã tăng khoảng 5 lần trong vòng 14 năm qua.
Theo khảo sát mới nhất của cơ quan thống kê, trong năm ngoái, 12,8% người ở độ tuổi 20 và 13,4% người ở độ tuổi 30 cho biết họ đang sử dụng các loại tài sản này để chuẩn bị cho việc nghỉ hưu. Cả hai con số này đều tăng hơn 10% so với mức tương ứng là 2,6% và 2,8% vào năm 2011, thời điểm cuộc khảo sát được công bố lần đầu tiên.
Tỷ lệ này đã tăng vọt, đặc biệt là vào khoảng năm 2021 khi một làn sóng nhà đầu tư cá nhân đổ xô vào thị trường chứng khoán, và duy trì ở mức hai con số kể từ đó. Người Hàn Quốc lớn tuổi hơn cũng có xu hướng chuyển sang đầu tư cổ phiếu hoặc trái phiếu để chuẩn bị cho hưu trí, nhưng sự thay đổi này diễn ra ít rõ rệt hơn. Trong cùng kỳ, tỷ lệ này đã tăng từ 2,4% lên 8% ở nhóm người độ tuổi 40, từ 2,4% lên 6% ở nhóm độ tuổi 50, và từ 1,4% lên 3,1% ở nhóm người từ 60 tuổi trở lên.
"Người trẻ có khả năng tiếp cận thông tin tốt hơn và quan tâm đến tài chính cá nhân cũng như quản lý tài sản. Do đó, họ dễ dàng bắt gặp các sản phẩm có ưu đãi thuế, chẳng hạn như tài khoản tiết kiệm hưu trí và IRP (Kế hoạch Hưu trí Cá nhân) trên mạng xã hội và đưa ra quyết định đầu tư. Trước tình trạng chế độ việc làm trọn đời không còn được đảm bảo chắc chắn như trước, họ cũng có ý thức mạnh mẽ hơn về việc cần phải tự chuẩn bị cho tương lai của chính mình", một quan chức trong ngành tài chính cho biết.
Việc ngày càng chú trọng vào tiết kiệm hưu trí tư nhân phản ánh mối lo ngại chung về việc liệu lương hưu quốc gia có đủ để trang trải cuộc sống cho người Hàn Quốc sau khi nghỉ hưu hay không. Mức lương hưu trung bình hàng tháng trong năm qua là 880.000 won (khoảng 17 triệu đồng), thấp hơn nhiều so với mức ước tính 1,54 triệu won (khoảng gần 30 triệu đồng) cần thiết để chi trả các khoản sinh hoạt phí cơ bản cho một hộ gia đình độc thân.
Mặc dù sự quan tâm đến các tài sản tài chính ngày càng tăng, lương hưu quốc gia và các sản phẩm tiết kiệm truyền thống vẫn là những hình thức chuẩn bị cho hưu trí phổ biến nhất đối với người Hàn Quốc.
Trong số những người từ 19 tuổi trở lên, 71% cho biết, họ coi lương hưu quốc gia là nguồn thu nhập khi nghỉ hưu trong năm ngoái, biến đây trở thành lựa chọn được sử dụng rộng rãi nhất. Tiếp theo là các hình thức tiền gửi ngân hàng, kế hoạch tiết kiệm và bảo hiểm kết hợp tiết kiệm, với tỷ lệ 44,1%.