Bước chuyển tư duy từ "đào tạo kiến thức" sang "kiến tạo năng lực"
Đánh giá về quyết sách mới của Bộ GD - ĐT, ông Nguyễn Văn Hinh nhận định, đây là một bước tiến đúng thời điểm và mang tính đột phá về tư duy quản lý giáo dục đại học
Theo ông, nếu giáo dục đại học vẫn tiếp tục vận hành theo mô hình truyền thụ kiến thức tĩnh, đóng khung trong niên chế cứng nhắc, thì khoảng cách giữa điều sinh viên được học và nhu cầu thực tế của thị trường lao động sẽ ngày càng doãng rộng
Điểm đột phá lớn nhất của văn bản này nằm ở chỗ, năng lực số và trí tuệ nhân tạo không còn là một học phần tự chọn mang tính hình thức, mà đã được luật hóa thành cấu phần bắt buộc trong chuẩn đầu ra, song hành cùng ngoại ngữ và khả năng học tập suốt đời
Cách tiếp cận này bám rất sát tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW, khi xác định giáo dục và đào tạo là đột phá chiến lược, đồng thời đặt ra yêu cầu gắn giáo dục với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đưa đất nước vào nhóm quốc gia có nền giáo dục tiên tiến
Ông Nguyễn Văn Hinh nhấn mạnh: “Xét trên bình diện quốc gia, đây cũng là một hình thức tái tạo sức lao động theo nghĩa hiện đại. Chúng ta không phải chỉ bồi dưỡng thể lực hay tay nghề đơn thuần, mà là tái cấu trúc năng lực tư duy, năng lực làm việc cùng công nghệ và năng lực tự học của cả một thế hệ, để lực lượng lao động trẻ Việt Nam không bị động trước làn sóng tự động hóa, mà chủ động sử dụng AI như một công cụ nâng cao năng suất và giá trị lao động của chính mình”
Bốn rào cản lớn trong giai đoạn đầu thực thi
Bất kỳ cuộc cải cách thể chế nào cũng có độ trễ nhất định giữa quy định và năng lực thực thi, và Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT cũng không phải ngoại lệ
Khó khăn đầu tiên và lớn nhất nằm ở đội ngũ giảng viên
Khó khăn thứ hai đến từ hạ tầng và học liệu
Khó khăn thứ ba là khâu thiết kế lại chương trình đào tạo, đề cương học phần và chuẩn đầu ra cho hàng trăm ngành, chuyên ngành khác nhau trong một khoảng thời gian chuyển tiếp có giới hạn
Cuối cùng là rào cản về nhận thức và văn hóa tổ chức
Ba lớp kỹ thuật để lượng hóa chuẩn đầu ra và minh chứng thực học
Điều 7 của Thông tư nhấn mạnh chuẩn đầu ra phải được cụ thể hóa thành các yêu cầu có thể quan sát, đánh giá và đo lường được
Lớp thứ nhất là xây dựng ma trận liên kết. Mỗi chuẩn đầu ra về năng lực số và trí tuệ nhân tạo phải được "trải" xuống từng học phần cụ thể, xác định rõ học phần nào đóng vai trò giới thiệu, học phần nào rèn luyện và học phần nào đạt mức thành thạo, tuyệt đối tránh tình trạng năng lực công nghệ chỉ xuất hiện ở một học phần duy nhất rồi biến mất trong suốt khóa học
Lớp thứ hai là thiết lập bộ công cụ đánh giá (rubric) đa cấp độ
Lớp thứ ba là trọng dụng minh chứng thực học. Các cơ sở đào tạo cần ưu tiên đánh giá qua sản phẩm đầu ra thực tế như đồ án tích hợp công nghệ, dự án dữ liệu hay hồ sơ năng lực số thay vì các bài thi lý thuyết đơn thuần, bởi năng lực số bản chất là năng lực hành động, chỉ bộc lộ rõ nhất qua sản phẩm và quá trình thực hiện
Song song với ba lớp kỹ thuật trên, các trường cũng cần thiết lập cơ chế rà soát định kỳ ma trận và công cụ đánh giá theo chu kỳ ngắn hơn so với chương trình đào tạo truyền thống
Đối với nhóm chỉ số khó lượng hóa như "khả năng thích ứng và học tập suốt đời", ông Nguyễn Văn Hinh khuyến nghị chuyển từ đo lường trực tiếp sang đo lường gián tiếp thông qua các chỉ báo hành vi
Cụ thể, cơ sở đào tạo có thể đánh giá qua chỉ báo về hồ sơ học tập cá nhân hóa (mức độ sinh viên chủ động lựa chọn học phần tự chọn, chứng chỉ ngắn hạn hay các khóa học trực tuyến mở ngoài chương trình bắt buộc); chỉ báo về năng lực tự phản tư thông qua nhật ký học tập, bài luận phản tư sau các dự án thực tế để sinh viên tự nhận diện điểm mạnh, điểm yếu; và chỉ báo về khả năng chuyển đổi kiến thức liên ngành khi vận dụng công cụ mới vào giải quyết bài toán quen thuộc
Toàn bộ dữ liệu này cần được gắn với hệ thống hồ sơ năng lực số do nhà trường quản lý xuyên suốt, kết hợp ý kiến phản hồi từ đơn vị sử dụng lao động qua các đợt thực tập
Mô hình trung tâm đánh giá độc lập và lộ trình ba giai đoạn
Theo ông Hinh, để nguyên tắc hậu kiểm vận hành hiệu quả theo đúng tinh thần quản trị đại học hiện đại, các cơ sở giáo dục đại học bắt buộc phải xây dựng một hệ thống quản lý học tập tích hợp (LMS) kết nối trực tiếp với hồ sơ năng lực số của từng sinh viên
Về mô hình tổ chức, thay vì để từng khoa hay từng giảng viên tự đánh giá năng lực số một cách phân tán, ông Nguyễn Văn Hinh đề xuất các trường nên hình thành một trung tâm đánh giá năng lực số và trí tuệ nhân tạo mang tính chuyên trách, hoạt động độc lập tương đối với các khoa chuyên môn, tương tự mô hình trung tâm khảo thí ngoại ngữ hiện nay
Trung tâm này sẽ đảm nhiệm ba chức năng cốt lõi: Xây dựng ngân hàng đề thi và bài đánh giá chuẩn hóa; tổ chức các kỳ đánh giá độc lập ở những mốc quan trọng của chương trình đào tạo; và cấp chứng nhận năng lực có giá trị xác thực cao
Để vượt qua những rào cản trong giai đoạn chuyển tiếp từ hai đến ba năm tới, chuyên gia từ Viện Ứng dụng công nghệ và Đào tạo phát triển nguồn nhân lực gợi ý lộ trình thực thi chia làm ba giai đoạn rõ rệt
Giai đoạn 1 (từ sáu đến 12 tháng đầu) tập trung rà soát, phân loại chương trình theo mức độ ưu tiên, trong đó ưu tiên các ngành có mức độ tương tác trực tiếp với công nghệ số trước; đồng thời, tổ chức bồi dưỡng cấp tốc năng lực số nền tảng cho toàn bộ giảng viên theo hình thức trực tuyến kết hợp thực hành
Giai đoạn 2 (năm thứ hai) triển khai tích hợp học phần, mô-đun trí tuệ nhân tạo chuyên ngành vào chương trình đào tạo, thí điểm ma trận liên kết tại một số ngành trọng điểm và hình thành đội ngũ giảng viên nòng cốt để lan tỏa trong nội bộ
Giai đoạn 3 (từ năm thứ ba trở đi) vận hành ổn định trung tâm đánh giá năng lực số, tổ chức đánh giá độc lập theo chuẩn đầu ra mới cho toàn bộ khóa sinh viên nhập học từ năm 2026 trở đi, đồng thời, thiết lập cơ chế rà soát học liệu tối đa 12 tháng một lần
Bên cạnh nỗ lực tự thân của từng trường, ông Nguyễn Văn Hinh khẳng định, rất cần có cơ chế điều phối liên trường, chia sẻ học liệu mở, đội ngũ chuyên gia và hạ tầng đánh giá dùng chung dưới sự dẫn dắt của Bộ GD - ĐT để tránh tình trạng mỗi trường "tự bơi" một cách phân tán và lãng phí nguồn lực
Chia sẻ thông điệp tâm huyết gửi tới các cơ sở giáo dục đại học trước bước ngoặt chuyển đổi quan trọng, ông Nguyễn Văn Hinh nhấn mạnh: “Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT chỉ thực sự tạo ra đột phá nếu được nhìn nhận không phải là một yêu cầu tuân thủ hành chính, mà là cơ hội để giáo dục đại học Việt Nam tái định vị chính mình trong chuỗi giá trị nhân lực toàn cầu
. Một chính sách dù đúng đắn đến đâu cũng chỉ phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, nhất quán, có giám sát và có trách nhiệm giải trình ở từng trường đại học, từng giảng viên, từng sinh viên
. Tái tạo sức lao động của thế hệ trẻ bằng tri thức, khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo không phải là câu chuyện của riêng ngành giáo dục, mà là câu chuyện của cả một nền kinh tế đang chuyển mình, và giáo dục đại học chính là nơi bắt đầu” .